[Tản mạn] Doãn

Khi viết bài này, tôi có băn khoăn là nên viết Dzoãn hay Doãn. Thông thường khi cô xuất hiện trên truyền hình, chữ Dzoãn khá Tây xuất hiện. Cá nhân tôi nghĩ tiếng Việt mình không có chữ “z”, có chăng do cô là người Bắc nhưng ở trong Nam, mà người Nam nói chữ “d” không như người Bắc, nên đài truyền hình thêm chữ “z” vào để phát âm đúng giọng Bắc, vô tình trở thành thương hiệu Dzoãn. Thiển ý của tôi là vậy thôi, chứ thực hư ra sao thì tôi chưa tìm được bài báo nào để xác nhận cả.

Viết về cô Nguyễn Doãn Cẩm Vân, tôi nghĩ ngay đến miền Bắc, đến Hà Nội.

Tôi chưa bao giờ nghe hay thấy một người nào toát lên chất Bắc như cô, Bắc đến nỗi ở trong Nam từ bé rồi mà cung cách, cách ăn nói, cách nghĩ và nấu ăn vẫn Bắc vô cùng. Tôi rất thích cô giảng về bún thang, đậu phụ rán tẩm hành, nộm hoa chuối, cà bung, bún bung, giả cầy. Tôi nghĩ cô là đầu bếp chuyên nghiệp, nấu món miền Trung và miền Nam cũng ngon thôi, nhưng cô chỉ giảng hay nhất khi dạy món Bắc. Tôi vẫn tin món ăn ngon và in vào tâm trí một người, đi qua bao năm tháng là vì tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm với những người mẹ Việt Nam rất đỗi tuyệt vời.

Cô Vân là người đầu bếp duy nhất mà tôi thích cả phần nghe lẫn phần nhìn. Những đầu bếp khác xuất hiện trên truyền hình rất nhiều, đặc biệt gần đây có nhiều đầu bếp trẻ trung, sôi động hơn, giả như cô Diệu Thảo cũng rất hay. Vậy nhưng ít có người dạy nấu ăn nào “hút” tôi như cô Vân được, tức là nhìn món ăn ngon lành thôi chưa đủ, mà còn phải nghe cô nói cái gì, cô thái rau thái thịt ra sao, và món ăn có ý nghĩa gì hay không. Sức hút đặc biệt này có lẽ đến từ nghề dạy Văn lúc trước của cô.

Cảm tình tôi dành cho cô có lẽ bắt nguồn từ việc tôi quý mến những thầy cô giáo dạy Văn. Không biết các bạn khác thế nào, chứ cá nhân tôi may mắn gặp được nhiều thầy cô giáo dạy Văn rất hay. Đôi khi cũng khuôn mẫu đấy, nhưng đa số các thầy cô đều dạy rất có tâm. Tôi nhớ lúc lớp ba, chỉ mới tám tuổi thôi, đã được một thầy giáo già giảng bài “Nắng mới” của Lưu Trọng Lư. Hoặc một cô giáo dạy cho lũ học trò cấp một biết bao nhiêu ca dao, tục ngữ, khơi gợi niềm yêu thích tìm tòi và học hỏi kho tàng triết lý quý giá ấy.

Cô Vân hay với tôi cũng vì lẽ đấy. Cách cô dạy rất gợi. Giả như lúc xem bài bún thang của cô, nghe cô bảo người Bắc ngày xưa hay trình bày những món bún trong bát chiết yêu, tôi lại muốn biết bát chiết yêu là gì và vì sao phải dùng loại bát đặc biệt ấy. Hay như lúc cô dạy cách làm tôm chấy cho món bánh bèo miền Trung, cô bảo người Huế thường không xay nhuyễn thịt tôm gần giống bột tiêu để rắc như người Sài Gòn mà chỉ giã sao cho còn giữ chút hình dáng thịt tôm và vị tôm.

Những chi tiết trên không biết có đúng thực tế không. Có vài bạn miền Trung bảo cô nấu không giống miền Trung. Vài bạn miền Bắc bảo cô nấu chưa đúng chuẩn Bắc. Có lẽ vì thời gian thay đổi, cách nấu và thưởng thức cũng thay đổi theo. Thậm chí là trong cùng một thời kỳ, mỗi gia đình lại có cách chế biến của riêng mình. Điều tôi quý ở cô Vân không phải là độ chính xác cần phải đem ra chứng thực, mà tôi quý cái tâm của người làm nghề dạy nấu ăn.

Tôi để ý là cô Vân ít dạy món Tây món Tàu, có lẽ vì hình ảnh của cô phù hợp với những món ăn Việt Nam. Cứ phải thấy nước mắm hay mắm tôm thì mới đúng là cô Vân nhất. Trong các món ăn Việt, cô cũng bảo thích “món” nước mắm nhất. Tuy nước mắm chỉ là một gia vị thôi, nhưng người Việt chúng ta tạo ra món kho quẹt (miền Nam) hay nước mắm chưng (miền Bắc) rất ngon. Cô có thể kỳ công làm bún chả bún thang, nhưng Việt nhất lại là việc cô thích nước mắm mà thôi.

Gần đây, cô chủ yếu dạy nấu ăn chay và thực hiện những chương trình Phật giáo. Đây cũng là hướng đi có thể hiểu được của một người phụ nữ đã trải qua nhiều thăng trấm của cuộc đời. Những bài giảng của cô vẫn hay như thế, và cô vẫn điềm tĩnh như thế trong từng câu nói. Điềm đạm như thế mà người phụ nữ này tự bươn chải nuôi con, học lái xe khi tuổi đã xế chiều, dám xông pha vào lĩnh vực kinh doanh dù không quá thành công.

Không nói nhiều về con người cô nữa, có lẽ các bạn ai đã từng xem cô thì đã biết hết rồi. Xin được chia sẻ một đoạn clip rất quý của chương trình “Người đương thời” mà tôi yêu thích. Đoạn video này nói lên được rất nhiều về cuộc đời và nhân sinh quan của cô. Có một vài người nhận xét là cô vẫn còn giữ cái tự hào quá cao để theo Phật, nhưng tôi nghĩ một người đi qua nhiều sự kiện như thế trong đời thì có quyền được tự hào. Cô tự hào nhưng không tự cao, thế là tốt lắm rồi.

Advertisements

[Tản mạn] Sài Gòn

Xin bắt đầu bài viết “Sài Gòn” một cách hơi kém duyên là…viết về Hà Nội. Tôi thuộc nhiều bài hát về Hà Nội, có khi đi trên đường New York lại lẩm nhẩm “nhớ phố Quang Trung đường Nguyễn Du, những đêm hoa sữa thơm nồng” dù chẳng biết hai con phố này trông ra sao và hoa sữa thơm thế nào. Tạm gác chuyện mình hay giả vờ sâu sắc sang một bên, tôi tự hỏi sao mình không nhớ hát bài nào về Sài Gòn. Rồi lại tự hỏi, Sài Gòn có cái gì để thành bài hát?

Chắc chắn không phải là hồ Con Rùa rồi.

Tôi, và có lẽ nhiều người khác nữa, thích Hà Nội vì hồ Gươm. Buổi sáng mát trời, đi dạo hồ Gươm rất thú vị. Chưa nói đến phố cổ thâm nâu hay cây bàng lá đỏ, chỉ cần nhìn cái hồ thôi là mồm đã bật ra thơ, ra nhạc rồi. Chẳng thế mà Hà Nội bắt hồn nghệ sĩ hơn bất kỳ thành phố nào trong nước.

Thế thì Sài Gòn có cái gì dể người ta mơ về rồi viết nhạc, viết thơ?

Thực ra, bất kỳ nơi chốn nào cũng có thể đi vào thơ, vào nhạc được, bởi tình yêu cho một địa danh là tình yêu cho những kỷ niệm. Sài Gòn có thể không có nhiều thứ gợi ngòi bút như Hà Nội, nhưng mỗi người Sài Gòn sẽ giữ riêng mình một vài góc yêu thương.

Góc thứ nhất của tôi là trường Lê Hồng Phong. Trường xây theo kiến trúc Pháp nhưng trông không già nua chút nào. Cái buồn, cái đẹp của dãy hành lang rộng dài, của từng viên mái ngói nâu đỏ, của hoa điệp (*) vàng rải ướt sân mưa là một nỗi buồn vừa phải tuổi học trò. Người ta đi qua rồi hồi tưởng chứ không nhốt mình trong quá khứ. Thời cấp ba rất ngắn, chỉ có ba năm thôi, nhưng ai nhớ về cũng thấy nhiều kỷ niệm. Tuổi đang lớn, tuổi thích mà tưởng yêu, tuổi thương ai quên ai giận hờn, tuổi tưởng tượng và mơ mộng ban ngày nhưng cũng bắt đầu nghĩ về thực tế.

Góc thứ hai là chợ Nguyễn Tri Phương. Chợ bán đủ thức ăn ba miền, từ bún riêu bún mọc bún chả miền Bắc, bánh bèo bánh nậm bún bò miền Trung, cho đến cơm tấm bún mắm miền Nam. Nhắc đến Sài Gòn, ai cũng nhắc chợ Bến Thành, nhưng tôi thích chợ Nguyễn Tri Phương hơn vì chợ này không phải là địa điểm du lịch. Gần chợ chỗ đối diện trường Nguyễn Tri Phương là một dãy các hàng nghêu sò ốc hến vừa rẻ vừa ngon. Tôi cũng nhớ hoài hàng bánh cuốn đường Ba Tháng Hai ngay ngoài chợ. Mẹ chở đi ăn bánh cuốn, uống sữa đậu nành, muốn ăn là phải đi sớm vì quán bán hết rất nhanh, thế nên hôm nào được ăn sáng với bánh cuốn là vui lắm.

Góc thứ ba là công viên Phú Lâm. Công viên không to đẹp như Tao Đàn, nhưng lúc bé tôi rất thích ra đây chơi. Chơi gì không nhớ rõ, chỉ nhớ là thích được đi chơi công viên. Chơi đến lúc chiều tối mới đi về, thấy sợ hai hàng cây cao như muốn nuốt chửng mình. Ngoài công viên còn có một hàng cháo lá dứa, thuở bé thích ăn vì cháo có màu xanh, nhưng không bao giờ ăn hết vì tô cháo to quá. Nhớ cả buổi sáng đi tập thể dục trong công viên với ba, ba bảo đi đứng gì mà rút cả hai vai lại, nhưng tập xong ba vẫn dắt đi bánh mì trứng và thịt nguội.

Những ký ức đẹp ở lại mãi với thời gian, cho nên dù thực tế bây giờ không đẹp như trong hồi ức, tôi vẫn yêu Sài Gòn vì những góc nhỏ rất bình thường như thế. Những ký ức này không thể đi vào thơ vào nhạc được, bởi người ta có thể hát về một con phố Hà Nội, nhưng không ai hát về một con đường Sài Gòn. Nhưng mà chẳng sao cả, người Sài Gòn không để tâm, vẫn hướng về Sài Gòn khi xa và nhớ về ký ức tuổi thơ bình yên giản dị. Không hề muốn quay về lúc thơ bé vì học hành khi xưa cũng rất cực khổ, nhưng khi đi làm ở nơi xứ người rồi, tỉnh dậy một sáng chủ nhật mưa, mới thấy nhớ những lúc mưa Sài Gòn vừa tạnh, mẹ mua cho quà rong thích biết bao nhiêu, và mình ở đây cô đơn như thế nào.

Thôi thì viết một bài như thế này cho Sài Gòn để biết mình cũng nhớ một bài hát rất hay về Sài Gòn đấy.

em còn nhớ hay em đã quên
nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng

Người yêu gì mà tính tình thất thường thế. Vậy mà mình cũng yêu, lạ thiệt!

 

(*) Sau này có người bảo là mọi người lầm rồi, cây trong sân trường không phải cây điệp đâu, nhưng tôi không nhớ người ta nói là cây gì nên thôi, cứ theo miệng đại đa số mà gọi điêu là cây điệp vậy.

[Tản mạn] tưởng tượng

Sau đợt quắn quéo vì Deadpool năm ngoái và Wonder Woman năm nay, mình khá trông chờ  Spiderman: Homecoming. Lúc xem xong, về nhà mở một fanmade trailer phim Spideypool tự dưng thấy buồn kinh khủng.

Từ nhỏ đến giờ, mình luôn thích những câu chuyện. Mình thích tưởng tượng. Thích những suy nghĩ vẩn vơ về một thế giới khác, về những khả năng siêu nhiên, về những mối tình trai tuyệt đẹp. Nhưng chả bao giờ được thấy một điều gì đó hiện thực hóa một tí nào cả. Phim superhero mà gay thì chắc chắn không có rồi, nếu có chắc chắn cũng làm không tốt. Những cặp đôi mình tưởng tượng gán ghép thì sẽ chẳng bao giờ có gì ngoài những fanart hay fanmade video cả.

Hai mươi lăm tuổi rồi, tưởng tượng cũng nhiều rồi, mọi thứ chỉ dừng lại ở đó thôi.

Nghe tin Yoochun sắp lấy vợ, không hiểu sao lại lôi fanfic cũ ra đọc. Thích nhất là tình cảm của Yoosu trong Lily of the Valley, Parallel, và Captured của Mắm Béo ngày xưa. Không hiểu sao lại thấy tình cảm đó đôi khi còn dễ thương hơn cả Yunjae.

Nhưng hiện thực thì không phải như thế. Junsu đã từng có bạn gái. Yoochun sắp lấy vợ. Ngay cả Yunjae cũng chẳng là cái méo gì cả. Jaejoong từng phát ngôn vô cùng thiếu não về chuyện phụ nữ mang thai. Yunho thì chắc là gay, nhưng có khi là bottom tìm người đè.

Thế giới tưởng tượng rộng lớn vô cùng, nghĩ được cái gì là nó sẽ thành như thế đấy. Nhưng thế giới ấy cũng nhỏ bé vô cùng. Một tiếng còi xe. Một tiếng chuông điện thoại. Một vài mẩu tin tức. Vậy là đủ để dập tắt trí tưởng tượng.

Nếu vẫn còn là một cậu bé trung học ngày xưa, chuyện tưởng tượng này cũng chả là vấn đề gì. Nhưng bây giờ, đi làm, buồn chuyện cơm áo gạo tiền, mới thấy ghét trí tưởng tượng của mình kinh khủng. Toàn nghĩ ra những thứ gì đâu, chẳng chịu nghĩ như một người lớn gì cả. Những chuyện vẩn vơ rồi sẽ không đi đến đâu, chả biết bắt đầu từ đâu và không hề biết kết thúc như thế nào. Vô bổ. Phí thời gian. Không bao giờ hiện thực hóa được.

Vậy mà vẫn cứ tưởng tượng.

Thế nên các em nào còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, nếu có mơ thì hãy làm gì đó cụ thể về giấc mơ của mình. Em thích ghép phim Spideypool thì em nên học thêm về điện ảnh, biết đâu sau này lớn lên em trở thành đạo diễn thành công, em sẽ là người đầu tiên quay phim Marvel có nhân vật chính là gay thì sao?

Xin tặng thêm cho các em một động lực ở đây.

Đừng chỉ tưởng tượng thôi, vì sau khi đã qua một thời điểm nào đó trong cuộc đời, mọi thứ sẽ chỉ dừng lại ở chuyện tưởng tượng. Và tiếng còi xe kéo em trở về thực tại buồn biết bao nhiêu.

[Tản mạn] Giời mưa ở Huế

Mấy hôm nay nghe lại bài “Mưa trên phố Huế” do cô Hoàng Oanh hát, tôi chợt nhận ra mình đã thiếu sót thế nào khi bỏ quên đoạn tâm sự ở cuối video. Cô bảo cô thích mưa, thích nghe tiếng mưa rơi trên nón lá, rồi ngâm mấy câu trong bài “Giời mưa ở Huế” của Nguyễn Bính.

Nhờ cô mà tôi đọc lại bài “Giời mưa ở Huế” để càng phục ông Bính biết bao nhiêu. Những từ ngữ như “Cố nhân chẳng khóa buồng xuân lại/Vung vãi ân tình khắp đó đây” bây giờ không ai viết nổi nữa. Có viết ra rồi thiên hạ lại bảo ô hay, ân tình mà dùng từ “vung vãi” nghe khiếp quá. Thế nên tôi thích cách dùng từ của văn thơ thời 1930-1945, khi hương xưa vẫn còn nhưng các ông các bà lại dùng từ rất thoải mái, khoáng đạt mà lại bộc lộ hết nỗi niềm của mình thật tự nhiên.

Tự nhiên nên rung được nhiều sự đồng cảm. Đời tôi không giang hồ như ông Bính, nhưng khi đọc hai câu sau đây thì lại lặng cả người

Trôi dạt dám mong gì vấn vít
Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây

Phép so sánh sòng bài với sòng đời thì không nói làm gì, hay đấy nhưng hay thường thôi. Quan trọng là ông bảo mình thua cả thơ ngây kia. Chả bàn đến bạc tiền, tình yêu, danh vọng, hay thậm chí là sự bình yên. Cái thua lớn nhất trong đời là “thua nhẵn cả thơ ngây.”

Tôi đánh giá rất cao sự thơ ngây.

Thơ ngây không hẳn là một điều tốt, nhưng tôi thích hiểu nó theo nghĩa tốt. Không phải là khờ dại, mà chỉ là thơ ngây. Con người ta còn thơ ngây thì sẽ không để tâm làm chuyện xấu. Con người ta thơ ngây thì sẽ có niềm tin vào chính mình và mọi người chung quanh. Con người ta thơ ngây thì mới giữ được một khoảng cách vừa phải với cuộc đời, đủ gần để nhận thức ngọn cỏ lá cây, nhưng đủ xa để thấy nắng xuyên qua lá không chỉ là trời nắng và chiếc lá.

“Ngây thơ ở với đời người rất lâu, bởi rốt cùng người ta mỗi ngày chỉ có thể bớt ngây thơ đi một chút. Rồi lại có một đêm nào đấy, con nhớ đến ngày xưa, miệng cười không thật tròn vẹn nữa, nhưng nỗi buồn đó lại ngây thơ vô cùng. Giấc ngủ khi ấy đến rất mau, và lòng con sẽ lại an tĩnh.”

Tôi tin có nỗi buồn ngây thơ. Có khi buồn vì chiều mưa thôi. Đơn giản vì mưa. Hoặc chậu hoa mình trồng bị héo. Hoặc mình thiếu một nguyên liệu nấu món ăn mình muốn hôm nay.

Chứ mình không buồn vì tình yêu, buồn đến mức uống rượu mỗi đêm và khóc khi đi trên đường. Chứ mình không buồn vì công việc, cảm giác muốn rời bỏ tất cả để đi đâu đó thật xa. Chứ mình không buồn vì bản thân, mãi mãi không thể thoát ra cái vỏ chật hẹp để sống ngang bằng với mọi người.

Nhưng mà mình lại buồn vì giời mưa ở Huế, vì cuộc đời thật bị phóng to và đập vào mắt.

Thôi thì bây giờ, xin được cùng cô Hoàng Oanh mơ về một ngày mưa ở Huế, nghe tiếng mưa rơi trên nón lá và hát ngân nga một bài. Tôi ghét mưa lắm, nhưng nếu giời mưa ở Huế thì có lẽ sẽ thương.

Giời mưa ở Huế sao buồn thế! 
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày 
Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ? 
Mà nhớ mà thương đến thế này! 
Cố nhân chẳng khoá buồng xuân lại 
Vung vãi ân tình khắp đó đây 
Mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo 
Cả đến ông giời cũng đổi thay!

[Tản mạn] Thanh

Thanh là âm thanh.

Âm thanh của hồn quê đất Bắc, âm thanh của buổi đầu nền tân nhạc Việt Nam, âm thanh của ái tình sướt mướt thuở chàng và nàng kéo dài đến buổi anh và em, âm thanh của tiếng khóc cười cho mệnh nước nổi trôi, âm thanh của Việt Nam thế kỷ hai mươi.

Giọng hát Thái Thanh chưa bao giờ là giọng hát tôi thích nhất. Giọng bà quá mùi, quá ướt, quá kịch. Thế nhưng, tôi tin chắc rằng tất cả những ai đã từng nghe giọng hát Thái Thanh đều phải kinh ngạc. Đến cả “giọng hát vàng ròng” Lệ Thu khi đi lưu diễn ở Nhật còn phải nói rằng “Nếu chị Thái Thanh có mặt ở đây và hát, mọi người sẽ cúi đầu khâm phục.”

Khâm phục là vì giọng hát bà quá điêu luyện và tình cảm. Trong thời buổi ở Việt Nam còn chưa có một trường dạy thanh nhạc nào, bà tự học bằng sách tiếng Pháp rồi lại kết hợp với kỹ thuật thanh nhạc phương Đông, tạo ra lối hát hàn lâm phương Tây mà vẫn đậm chất chèo. Người gì mà tài quá, hát nhạc Pháp bài “Dòng sông xanh” đã hay rồi mà lại còn có thể ngọt ngào với ái tình làng quê trong “Nụ tầm xuân” cho được.

Thực ra, bà Thái Thanh không phải là người tiên phong, cũng không phải là tài năng duy nhất. Cùng thời với bà còn có chị bà Thái Hằng hay bà Kim Tước cũng rất nổi bật, hay ngoài Bắc còn có NSND Thương Huyền chẳng hạn. Nhưng theo cảm nhận cá nhân của tôi, giọng hát Thái Thanh uyển chuyển và gần gũi nhất. Đó là giọng hát kết hợp nhuần nhuyễn Đông Tây, mượt mà không gượng ép, dù cách chọn cao độ và lối giả thanh khá giống với thế hệ cùng lứa thì cách phát âm lại tự nhiên, tròn rõ hơn rất nhiều.

Cá nhân tôi thích giọng nữ trầm và lạnh như Khánh Ly hay Thanh Lam hơn, nhưng có những bài rất cần màu giọng chói sáng mãnh liệt của Thái Thanh. Chẳng hạn như trường ca “Hòn vọng phu” của Lê Thương chỉ hùng tráng, bi ai nhất khi được trình bày với giọng hát vượt thời gian của bà. Hay như bài “Buồn tàn thu” của Văn Cao tuy được biết đến sau này qua giọng hát Ánh Tuyết thì vẫn không thể nào đủ bị luỵ như khi Thái Thanh hát được. Chỉ một câu đầu “ai lướt đi ngoài sương gió” là đã thấy rét trong lòng rồi.

Giọng hát Thái Thanh rất phù hợp với những bài tân nhạc buổi đầu của Phạm Duy và đặc biệt là Văn Cao. Cái thuở chàng và nàng, cái thuở vọng phu, cái thuở đan áo cho chồng, cái thuở giao thời vẫn còn man mác Kiều Vân, chưa có ai hát ra được bằng Thái Thanh. Nhạc Việt về sau đã chuyển mình, nói về tình cảm lứa đôi theo chiều hướng hiện đại hơn, cũng cần những giọng hát trẻ trung hơn, nhưng nếu muốn hoài cổ một tí thì giọng hát Thái Thanh chắc chắn là lựa chọn số một.

Thái Thanh hát rất tuyệt nhạc Phạm Duy cũng là vì trong giọng bà có chất xưa. Những ngôn từ giản dị, chân chất như “trèo lên cây bưởi hái hoa” hay “trèo lên cây bưởi khóc người rưng rưng” bây giờ không ai nghĩ đến mà viết ra được, viết rồi cũng chẳng có ai hát được. Tôi thích cách dùng từ thời Phạm Duy vì nó rất phóng khoáng mà vẫn ý nghĩa vô cùng. Người làm thơ, làm nhạc không sợ “làm đau” từ ngữ vì họ viết rất hồn nhiên. Dùng từ “hồn nhiên” này nhiều người sẽ bảo không phù hợp, nhưng sự sáng tạo ngôn từ một cách thoải mái, không bị sáo rỗng tôi không tìm được ở nhạc Việt sau này. Và giọng hát Thái Thanh vô cùng thích hợp với những ngôn từ hơi hơi xưa cũ đó.

Mọi người tôn bà là “Giọng hát vượt thời gian”, tôi thấy hoàn toàn xứng đáng. Cho đến nay, chưa có giọng hát nào tụ họp mọi yếu tố hào sảng, bi thương, sầu não, khoan thai, hùng tráng, thẹn thùng như thế. Qua thời gian, nền tân nhạc Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, nhưng người trong nghề và nhiều khán giả vẫn luôn nhớ về bà như một tượng đài của nhạc Việt.

Bài cuối cùng trong chuỗi tản mạn về những ca sĩ Việt Nam, tôi xin được dành cho giọng hát Thái Thanh. Cho dù hiện nay bà đã không còn hát nữa, tôi tin chắc mình và nhiều người vẫn đôi khi mở lại nhạc Thái Thanh nghe để rồi thấy cảm phục và yêu quý.

Nói đến giọng hát Thái Thanh, không thể không nói đến bản tình ca đất nước hay nhất mà tôi từng biết do nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác. Âm thanh của Việt Nam, của Lý Lê Trần, của máu sông Hồng và sông Cửu Long, sẽ không có một ai, dù là những giọng hát tuyệt vời như Mỹ Linh hay Nguyên Thảo, thay thế được.

Xin cảm ơn và chúc bà mạnh khỏe.